Showing posts with label Suy Niệm. Show all posts
Showing posts with label Suy Niệm. Show all posts

Friday, January 21, 2011

Đồng Hành để Lãnh Đạo



Mục đích: Nhằm giới thiệu một phương pháp hướng dẫn một bài Giáo lý. Phương pháp này lấy cảm hứng từ câu chuyện hai Môn đệ trên đường Emau. Câu chuyện Thánh Kinh này cũng có thể đề nghị một đường hướng mục vụ giới trẻ cụ thể.

Goal: Introducing a specific approach to leading a catechism session. This approach is inspired by a Scriptural encounter – the story of the two disciples on the road to Emmaus. This story could also serve as an inspiration to a youth ministry approach.

1. The four developments of the Emmaus story – Bốn bước diễn tiến của câu chuyện Emau:

- Jesus meets and shares life stories while walking with the two disciples – Chúa Giêsu gặp gỡ và chia xẻ câu chuyện cuộc đời khi đồng hành với 2 môn đệ

- Using Scriptures and teachings of the traditions, Jesus shines light on the disciples’ life stories to help them see their meanings – Chúa Giêsu dùng Thánh Kinh và truyền thống để giúp hai môn đệ nhận ra ý nghĩa của những câu chuyện xảy ra trong cuộc đời họ

- Jesus leads the disciples to the “breaking of the bread,” the sacramental life – Chúa Giêsu dẫn hai môn đệ đến “nghi thức bẻ bánh,” đời sống Bí tích

- Inspired, the two disciples take on the mission of witnessing Jesus to their fellows – Sau khi nhận ra Chúa, hai môn đệ nhận lấy sứ mạng làm chứng cho Chúa Giêsu với anh em.

2. The four developments of a faith lesson – bốn bước diễn tiến của một bài học đức tin:

- Invite students to share and we listen to their life stories – Mời gọi các em và lắng nghe các em kể về những câu chuyện về đời sống của các em

- Use the Scriptures and teachings of the Church to help students find meanings of their life’s stories – Dùng Thánh Kinh và giáo huấn của Giáo hội để giúp các em thấy được ý nghĩa của những sự việc xảy ra trong cuộc sống các em.

- Lead students to prayer, worship and the sacramental life – Dẫn các em đến đời sống cầu nguyện, thờ phượng và đời sống Bí tích.

- Empower students to take on the discipleship role – Trao cho các em sứ vụ làm Môn đệ Chúa trong cuộc sống.

3. How this Emmaus story could map out a youth ministry approach – Câu chuyện Emau này có thể đề ra một hướng đi cho chương trình mục vụ giới trẻ



Sunday, December 12, 2010

Mừng Lễ Đức Mẹ Guadalupe

Slideshow hình chụp tại đền Đức Mẹ Guadalupe



Bài hát HANG BÊLEM (Nguyễn Quang Sáng)
Nói về tình yêu Chúa giáng sinh cho người nghèo khổ hôm nay.

Tuesday, February 23, 2010

Thánh Vịnh 126: The Lord Has Done Great Things

Bài hát song ngữ, viết 2/22/2010, St. Vincent Seminary





Chorus:

The Lord has done great things for us

We are filled, we are filled with joy.



Verse 1:

When the Lord of mercy freed us from captivity

Filled with joy, we felt like in a dream.

When the nations said, "Their Lord has done great things for them,"

We are glad: Our God has done great things.



Verse 2:

Like the torrents in the southern desert, hear our prayer

Lord, restore our fortunes, you we trust!

Those who sow in tears will one day reap with laugh of joy

Oh, the happy day God brings us back.



Bridge:

Ai xưa đi gieo vai mang gánh nặng, mắt tuôn lệ rơi

Mùa gặt mai sau, lòng mừng vui mang về lúa chín thơm vàng.

Khi dân lưu đày Si-on trở về thành đô yêu dấu

Tưởng mình trong mơ, miệng cười vui vang câu hát khen.



Last chorus:

Ngài đã ra tay, Chúa vĩ đại thay

Lòng hân hoan, miệng vui ca hát luôn.



The Lord has done great things for us

We are filled, we are filled with joy.

Saturday, January 30, 2010

Lời Nguyện với Cha Bosco


Lạy Cha Thánh Gioan Bosco
Cha là gương sáng Tông đồ của Chúa cho giới trẻ.
Xin Cha phù hộ và giúp đỡ con mỗi ngày,
Để con sống trung thành với ơn gọi nên Linh mục thánh của Chúa Giêsu
Theo chính con đường Salêdiêng Cha đã sáng lập.
Xin giúp con biết tôn sùng Bí Tích Thánh Thể sâu xa,
Biết yêu mến Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu hết lòng,
Biết hiệp thông với mẹ Giáo Hội và Đức Thánh Cha.
Xin giúp con luôn biết cổ võ đời sống yêu thương trong cộng đoàn con sống hằng ngày.
Và trong nhiệt tình Tông đồ,
Xin dạy con biết sống, rèn luyện, làm việc và hy sinh
Cho lợi ích phần hồn và phần xác của giới trẻ,
Những em mà Chúa gởi đến trong cuộc đời của con.

Cuộc sống và ơn gọi linh mục của con, xin Cha dẫn dắt và bảo trợ;
Xin dẫn con đi theo Cha đến trọn cuộc đời,
Vì danh Chúa Giêsu và Mẹ Maria.
Amen.

Thursday, October 8, 2009

Thánh Vịnh 1:3: Con là cây, sức sống Ngài là dòng nước

Con có mãi đi xa
Cũng tìm nơi nghỉ bước
Cây có mãi vươn cao
Rễ đâm sâu tìm nước

Con sinh ra từ đất
Nên hay lấm lem bùn
Nhưng đất bùn nhiều nước
Nên cây trái um tùm

Một ngày kia nhìn lại
Không phải sức của mình
Nước trong con vẫn chảy
Dòng nước của đường tình

Cây mọc bên dòng nước
Nên cành lá xum xuê
Bao đời vẫn xanh mướt
Yêu một đời thỏa thuê

Rễ một đời tìm nước
Vì đất rắn, cây sầu
Thật ra nước đi trước
Một ngày sẽ gặp nhau.

Nước đâu cần đến cây
Nhưng tìm cây không nghỉ
Cây có sống mỗi ngày
Nhờ hút nước liên lỉ.

Saturday, May 2, 2009

Hoat Canh Giang Sinh 2006



Phần mở đầu

Khi Chúa dựng nên con người thuở ban đầu, con người theo lẽ tự nhiên phải yêu thương nhau vì mang cùng một bản tính là con của Thiên Chúa, và trước mặt Ngài, ai cũng có giá trị như nhau. Nhưng không biết từ thuở nào, những người con của Chúa lại muốn mình có quyền hành trên người anh em đồng loại khác. Từ thuở xa xưa đã có chế độ nô lệ chủ tớ. Văn hóa nào cũng có kẻ làm chủ và có người làm nô lệ. Một khi đã làm chủ rồi thì lại có quyền hành trên người dưới mình. Một khi đã làm nô lệ rồi thì mình không còn quyền lợi như một con người bình thường nữa. Điều đó cũng có nghĩa là đau khổ tồn tại, điều đó cũng có nghĩa đắng cay hiện hữu trong cuộc đời.

Thánh Kinh trong thời Cựu Ước cũng có những câu chuyện của nô lệ. Dân Israel bị nô lệ bởi vua Ai Cập qua mấy đời. Họ phải phục dịch nhà vua, xây dựng đền đài, nhà cửa công trình không công, trong khi phải ăn uống cực nhọc và ở những khu nghèo khổ. Sau khi Môise dẫn họ ra khỏi Ai Cập, kiếp nô lệ không chấm dứt ở đó. Tự do độc lập không được bao lâu lại phải làm nô lệ cho ngoại bang. Ngay cả khi Chúa ra đời, dân Israel vẫn là nô lệ của người La Mã. Câu kinh thường ngày trên môi người Israel luôn là: “Giavê ơi, chúng con phải đợi đến bao giờ? Bao giờ Đấng Cứu Thế mới đến?”

Đất nước Hoa Kỳ mà chúng ta đang định cư cũng có những trang sử đen tối của những đau khổ người da đen phải chịu đựng qua mấy trăm năm. Họ là những người từ châu Phi bị bắt cóc qua lao động cực nhọc trên những đồn điền sản xuất nông sản, làm phục dịch trong gia đình người da trắng, trong khi con cái không có quyền lợi học hành, tiêu dùng, để lớn lên lại tiếp tục làm nô lệ như thế hệ cha ông. Trong cùng cực, những câu than thở luôn là: “Bao lâu? Bao lâu chúng tôi phải chịu đựng trong đau khổ của kiếp nô lệ này?”

Trịnh Công Sơn có bài hát nói về kiếp nô lệ của người Việt Nam: “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu; một trăm năm nô lệ giặc Tây ...” Mang thân phận một đất nước nhỏ bé cạnh bên những cường quốc, Việt Nam đến mấy ngàn năm phải làm nô lệ cho một đất nước khổng lồ như Trung Quốc. Lịch sử anh hùng của bao vị tiền nhân các thời vẫn sáng ngời, nhưng khó che dấu được nuớc mắt cay đắng của cái nhục làm nước nhược tiểu phải chịu thuần phục đại quốc xung quanh. Vết thương bị đô hộ bởi thực dân vẫn còn lãng vãng quanh đây, chưa đầy một thế kỷ để có thể chìm vào quên lãng, những tưởng thời đại mới sẽ đem lại tự do hoàn toàn. Nhưng vẫn có những đau khổ không thể nói nên lời và bàn bạc giữa công chúng, vẫn có những uất ức đến chảy nước mắt vẫn không làm gì được, tự do được nghe thấy mà không được cảm nhận, kinh tế đi lên mà phẩm giá cá nhân con người vẫn giậm chân tại chỗ so với bè bạn năm châu. Áo đẹp hôm nay có nhiều hơn để người ta mặc, nhưng lại có cả những cô gái mặc áo đẹp phải bán cả cuộc đời người con gái và hạnh phúc gia đình vì hoàn cảnh, và vì có quá nhiều những con người muốn lừa lọc lẫn nhau, muốn làm lời trên đau khổ của người khác. Miên mang trong những đau khổ, câu kinh không thành lời luôn bộc lộ qua những câu hỏi: “Chúa ơi, khi nào chúng con mới được thanh bình?”



“Giới trẻ”

Nhưng cũng có những thứ nô lệ của thời hiện đại, dù không làm người ta đổ mồ hôi, sôi nước mắt trên những cánh đồng lao động cực nhọc, nhưng cũng đem lại những đau khổ sâu thẳm nơi tận đáy cùng của tâm hồn và tinh thần của mỗi con người. Một thiếu niên lớn lên đi học, phải làm nô lệ cho một xã hội ảnh hưởng bởi phim ảnh và âm nhạc, mất tự do đến nỗi hành động của mình bị chi phối bởi những gì bạn bè cho là hay, là đúng. Sở thích và thị hiếu bị chi phối bởi những hình ảnh mà truyền hình quãng cáo là đẹp, là quý. Lớn lên và đi học, chăm chỉ học hành hay ngoan ngoãn vâng lời bị xem là cù lần, là không hợp thời đại. Giới trẻ còn có bị xiềng xích của những thói quen xấu, tưởng là đơn giản nhưng không thể nào thoát được. Rượu chè, hút sách hay bài bạc có thể chỉ bắt đầu từ những vui chơi xã giao rất hợp lý, nhưng ranh giới giữa hợp lý và nghiện ngập ít ai nhìn ra sớm được, hay nhìn ra rồi hỏi có dễ thoát khỏi thói quen hấp dẫn này không? Phim ảnh hay sách truyện vốn có thể giúp người ta giải trí hay nâng cao hiểu biết, nhưng những nghiện ngập trong phim ảnh hay sách truyện không lành mạnh có thể làm thay đổi cái nhìn của con người về phẩm giá của người khác, biến món quà tình cảm và tính dục Chúa ban thành những trò chơi thoả mãn dục tính, để chiếm hữu người khác cho lợi ích của riêng mình, hơn là đến gần nhau để yêu thương và xây dựng hạnh phúc. Đàng nào cũng là những nô lệ, nô lệ mình tự tạo cho mình hay nô lệ mình đặt lên cho những người khác. Cũng có những nô lệ của thói quen muốn buông thả, không muốn chịu khó vươn lên. Cũng có những nô lệ của một lối sống hưởng thụ cho chính mình hơn là sống để lo cho hạnh phúc của người khác. Những xiếng xích nô lệ thời hiện đại này vô hình, nhưng nặng hơn và khó bẻ gãy hơn xiềng xích bằng sắt trong lịch sử vì nó là nô lệ của cả một ý thức hệ và của cả một xã hội con người. Nhiều khi phải ngụp lặn trong vòng xiềng xích này, con người không thể nghĩ đến cả một câu cầu nguyện nào chính đáng để xin Chúa giúp đỡ. Nhưng lạy Chúa, Ngài hiểu rõ chúng con và thời đại chúng con, Ngài hiểu rõ chúng con cần Ngài sinh ra và ngự trị trong cuộc đời chúng con một lần nữa. “Xin hãy đến để giải thoát chúng con.”




“Người cô đơn”

“Bên sông Babylon ta ngồi khóc nỉ non, thương nhớ quê nhà Giêrusalem giờ đã xa rồi.” Nỗi đau xa nhà, lưu biệt viễn xứ, có thể không ai hiểu hơn bằng dân Israel. Lịch sử một dân tộc bị nô lệ, bị khổ sai, bị đi đày viết đầy lên trang sử của nước mắt, những câu than van trông mong một vị cứu tinh đến dẫn dắt dân tộc thoát ách lầm than.

Gần hai ngàn năm sau, vận mệnh của một đất nước khác đã dẫn đưa hơn hai triệu con dân đất Việt xa quê hương, lưu lạc khắp nơi trên thế giới. Xa quê nhà để tìm tự do, xa quê nhà để đem lại tương lai sáng sủa hơn cho gia đình và cho con cháu mình mai sau. Babylon có hùng mạnh và đẹp hơn Giêrusalem bao nhiêu, người Israel vẫn ngồi than khóc vì thương nhớ. Ánh đèn xa lộ ở cường quốc Hoa Kỳ có sáng hơn ngọn đèn đầu ngõ chật hẹp Sài Gòn, người Việt Nam vẫn cảm thấy ngậm ngùi mỗi năm Tết về.

Con cháu thế hệ sau của người Việt tị nạn đang phấn đấu vươn lên, học hành thành công, đóng góp hữu ích cho xã hội bản xứ, xây dựng gia đình và các mối quan hệ xã hội rộng rãi. Nhưng trong những mái gia đình ăn cơm với nước mắm mỗi ngày đó, giọt lệ của người lớn tuổi cô đơn nghe xót xa vô cùng. Ngôn ngữ không phải của mình, tuổi đã qua làm sao học nỗi. Văn hóa không phải của mình, có nhộn nhịp sang trọng biết bao, nhưng làm sao có thể kiếm được sự thỏa mãn vui tươi. Con cái trong nhà, có cố gắng lắm mới giữ được mỗi bữa cơm gia đình, chứ còn trong ngày, kế sinh nhai phải dẫn chúng nó đi biền biệt. Những đứa cháu khôi ngô dễ thương nói thứ tiếng Việt nghe lơ lớ buồn cười, và cứ ngơ cái mặt ra mỗi khi bố mẹ ông bà nói một câu tiếng Việt nào với chúng. Câu chuyện trên điện thoại thỉnh thoảng nghe những tiếng thở dài xót xa cho người thân kẻ lạ nào đó vì hoàn cảnh phải vào ở trong nhà dưỡng lão một mình, xung quanh không lấy một ai hiểu được một thói quen rất đơn sơ: rằng thực phẩm của tôi mỗi ngày không thể thiếu cơm chan nước mắm. Ngồi một mình, chỉ mong có con có cháu đến chở mình đi thăm một gia đình quen người Việt Nam, hay cuối tuần đi chợ ngửi lại mùi mắm quen thuộc, và nghe lại câu kinh ê a mình đã học từ thuở nảo thuờ nào.

Vâng, Đấng Cứu Tinh ơi, ngày xưa dân Israel mấy trăm năm mong chờ Ngài đến, Ngài đã đến rồi, hơn hai ngàn năm qua, con cái của Ngài vẫn không ngừng rên xiết nỗi đau cô đơn. Đến, xin đến ôi Đấng Cứu Tinh!

Tuesday, March 24, 2009

Chặng Đàng Thánh Giá

Chang dang Thanh Gia

Năm 2007: Song ngữ, dùng trong GX Đức Mẹ Việt Nam cho cộng đoàn, có nhạc và slideshow phụ họa.

Năm 2008: Biên soạn và trình bày bởi lớp Vào Đời II, song ngữ, có hoạc cảnh cho mỗi chặng. Đây là Chặng Đàng đã được rút gọn.

Sunday, February 1, 2009

Mười Điều Răn cho người Salêdiêng theo Thánh Phanxicô Salesio

Mười Điều Răn cho Người Sa-lê-diêng theo Thánh Phan-xi-cô Sa-lê In E-mail
Người viết: Lê An Phong, SDB
24/01/2009

Lê An Phong, SDB

(Từ lời của Thánh Phan-xi-cô Sa-lê và vài gợi ý suy tư tĩnh tâm của cha Morand Wirth, SDB)

Image1. Tiên vàn hãy tìm kiếm điều mà Thiên Chúa yêu thích

“Đó là trung tâm không hề di dời trong đời sống của tôi; tất cả mọi ước mơ và hành động của tôi đều xoay quanh hạt nhân ấy”.

Thiên Chúa yêu thích những gì thiện hảo, người Sa-lê-diêng sống và hoạt động theo thánh ý Thiên Chúa, hay là họ định hướng đời mình theo những sự thiện hảo của Thiên Chúa.

2. Hãy làm tất cả mọi sự với Lòng Mến

“Đó là nguyên tắc cản bản của sự vâng phục: hãy làm tất cả vì tình yêu thương, chứ đừng làm vì sự ép buộc. Hãy yêu mến sự vâng lời hơn là sợ hãi sự bất tuân phục”.

Đức Ái là căn bản của sự hoàn thiện nơi con người. Chính tình yêu khiến chúng ta chu toàn mọi sự cách tốt đẹp.


3. Không xin gì cũng không từ chối điều gì

“Hãy đặt mọi sự trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa, đừng dừng lại ở bất cứ một đam mê nào ngoài niềm đam mê làm mọi sự mà Thiên Chúa muốn nơi ta”.

Đây không phải là thái độ dửng dưng của người Sa-lê-diêng, xem mọi sự “có như không” và “không như có”: tất cả không có giá trị hay chẳng quan trọng gì. Điều mà người Sa-lê-diêng phải sống là “thái độ dửng dưng thánh thiện”: không dính bén, biết đặt tất cả những gì mình có hay không có, còn hay mất vào tay Thiên Chúa để chính Người ra tay.

4. Hãy xây dựng mọi sự từ bên trong

“Tôi chưa bao giờ chấp nhận phương thức của những nhà cải cách, muốn thay đổi con người từ những gì bên ngoài như tóc tai, áo quần, cách sinh hoạt... Tôi nghĩ rằng phải thay đổi từ bên trong trước rồi sau đó mới đến các sự bên ngoài... Con tim luôn là cội nguồn của mọi hành động, mọi sự tuỳ thuộc vào đây... Ai có Chúa Giêsu ngự nơi trái tim mình sẽ kiên vững trong mọi thử thách”.

Trong khi thế giới này muốn làm thay đổi con người từ bên ngoài, người Sa-lê-diêng cần phải suy nghĩ luôn đến việc thay đổi từ bên trong, thay đổi tận căn và thay đổi vì những đòi hỏi của trái tim biết yêu thương với một tình yêu không tính toán như Chúa Giêsu đã dạy.

5. Hãy tiến bước trong sự bình thản

“Sự vội vàng và nôn nóng chẳng mang lại ích lợi chi cả; ao ước một đời sống thiêng liêng thì tốt lành đó, nhưng nhớ là đừng nôn nóng. Sự chữa lành nếu được tiến hành trong bình thản sẽ an toàn hơn”.

Giữa bao bề bộn của công việc, người Sa-lê-diêng dễ dàng nóng nảy và vội vàng. Sự bình thản luôn là yếu tố quan trọng để đủ trí lực mà giải quyết mọi vấn đề. Sự bihnh thản cũng là dấu hiệu của một tâm hồn biết đường hướng phải theo và biết phó thác vào Đấng là Chủ thể mọi công trình mà ta đang làm.

6. Hãy suy nghĩ luôn về “giây phút hiện tại” của Thiên Chúa

“Chúng ta hãy suy nghĩ để thực hiện những hành động ngay bây giờ, trong hiện tại, vì cái gọi là “ngày mai” đối với chúng ta hôm nay sẽ trở thành “hôm nay” vào ngày mai”.

Người Sa-lê-diêng hãy nhớ lời của Don Bosco để sống như thể ngày mai sẽ là ngày sau cùng của cuộc đời, và để làm việc như ngày mai không bao giờ kết thúc.

7. Hãy bắt đầu lại mỗi ngày

“Mỗi một ngày chúng ta hãy bắt đầu lại bước tiến của đời sống thiêng liêng, và nếu biết suy nghĩ sâu xa về điều này chắc chắn chúng ta sẽ không còn ngạc nhiên nếu thấy mình vẫn còn nhiều điều thiếu sót. Không có một điều gì có thể xem là hoàn hảo ngay từ đầu nơi con người, bởi thế cần phải bắt đầu đi và bắt đầu lại mãi luôn”.

Đây cũng là điều liên quan đến việc xét mình hằng ngày để có những quyết định dấn thân phù hợp và nổ lực không ngừng nơi người Sa-lê-diêng.

8. Hãy tận dụng tất cả mọi cơ hội để nên thánh

“Anh em hãy biết đón nhận những chuyện bất công, những khó chịu, mất mát nho nhỏ vẫn thường xảy ra hằng ngày. Những dịp hy sinh nho nhỏ như thế nếu được sống với lòng mến sẽ trở nên dịp thuận tiện để anh em chiếm được trái tim rộng lớn của Thiên Chúa”.

Người Sa-lê-diêng không cần phải tìm những gì có vẻ lớn lao, chỉ cần làm những việc nhỏ và chu toàn các bổn phận hằng ngày thò họ cũng đủ để đáng được hưởng phần thưởng lớn rồi.

9. Hãy sống vui tươi

“Anh em hãy tiến bước trong niềm vui và cùng với cõi lòng rộng mở; trong trường hợp nếu anh em không thể luôn luôn tiến bước trong niềm vui, thì hãy tiến bước với lòng can đảm và sự tin tưởng, phó thác”.

Với người Sa-lê-diêng, việc bổn phận hằng ngày không khi nào thiếu. Linh đạo nên thánh mà Don Bosco chi cho Domenico Savio bắt đầu từ kinh nghiệm của Ngài: Nên thánh bằng cách chu toàn bổn phận trong niềm vui, phụng sự Chúa trong niềm vui.

10. Hãy sống trong tinh thần tự do

“Tôi không bao giờ đắn đo khi phải thay đổi một vài nguyên tắc sống của minh nếu việc mục vụ đòi hỏi... Cám ơn Chúa đã ban cho tôi lòng yêu mến tinh thần tự do cũng như sự ghét bỏ những điều mất trật tự và tính phóng túng”.

Đới với người Sa-lê-diêng, sống theo một nguyên tắc hay tự tạo cho mình một nguyên tắc nào đó cho công việc là điều cần thiết, nhưng họ phải biết mềm dẻo và thích ứng với nhu cầu mục vụ. Ta cũng nên biết rằng:tính mềm dẻo và biết thích ứng hoàn toàn khác với kiểu sống vô tổ chức hay phóng túng; tinh thần tự do khác với tính ưa thích tự do hay chủ nghĩa tự do.

( LAP tổng hợp và chuyển ngữ. Mừng Lễ Thánh Phan-xi-cô Sa-lê 24-01-09, Roma)

Thursday, December 4, 2008

Cứ mãi kiếm tìm



Trong lớp Fundamental Theology tuần này, tôi phải viết một bài giảng đoạn Thánh Kinh về bà Maria Madalena gặp Chúa Giêsu sau khi Ngài sống lại (Jn 20: 11-18). Sau khi đọc qua đoạn TK này và một vài chú giải Kinh Thánh hồi tuần trước, tôi bắt tay vào viết ngay, chỉ trong vòng hơn một ngày là tôi đã viết và hoàn chỉnh lại bài để đem đi nộp. Những tưởng bài viết đã hoàn chỉnh rồi, nhưng bà Giáo sư nói tôi phải viết lại vì phương cách soạn bài giảng và những nguồn dẫn chứng tôi dùng không đúng với ý của bà ta. Tôi hơi thất vọng, và hơi bực mình vì công khó đọc bài và viết bài trong hai ngày của tôi thành công cốc. Bây giờ thì tôi đã viết xong và nộp lại bài thứ hai rồi. Nhìn lại sự cố nho nhỏ này mà tôi lại học được nhiều điều, và cũng làm cho tôi trăn trỡ một số câu hỏi khác.

- Đời có những sự việc không nằm trong sự dự đoán và sắp xếp của mình. Tôi dự định là hoàn thành bài viết đó sớm để bắt đầu lo ôn thi, hoặc nghỉ xả hơi một tí trong tuần này để lấy sức thi tuần tới. Bây giờ trách bà giáo sư hay trách mình. Đúng ra thì chả có ai để mà trách. Chỉ biết bình tâm một chút để nhận ra rằng, đời có những sự việc không nằm trong sự dự đoán và sắp xếp của mình. Cứ bình an với nó.

- Nhưng mà chính trong sự cố hơi khó chịu đó, tôi lại học được vài điều hay. Dĩ nhiên là khi làm một bài tập hai lần, với hai lần nghiên cứu sách vở khác nhau, thì tôi học hỏi thêm rất nhiều điều hay. Để biết là trong một đoạn TK ngắn ngủi như vậy nhưng hàm chứa biết bao là chân lý cao đẹp và biết bao chuyện tình yêu ngọt ngào. Tôi sẽ tóm tắt nội dung 2 bài giảng vào một dịp sau để bạn đọc có thể tham khảo.

- Sự cố này cũng làm cho tôi suy nghĩ nhiều về việc rao giảng Tin Mừng. Dĩ nhiên có nhiều cách thức rao giảng khác nhau, nhưng phải chọn cách rao giảng nào để sự phong phú và thâm sâu của Tin Mừng được lột tả. Như thế thôi chưa đủ, phải chọn một cách thức nào để người nghe có thể nắm bắt được ý mình muốn nói. Khi chọn lối đi truyền thống của GH Công Giáo trong việc giảng giải TK, có nghĩa là dựa trên kinh nghiệm bản thân và cộng đồng, dựa vào truyền thống và lịch sử trong GH liên quan đến đoạn TK đó, dựa vào những kết quả nghiên cứu chuyên môn nghiêm túc của khoa Thánh Kinh ..., và dựa vào Giáo huấn của GH, thì bài giảng sẽ rất xúc tích và tràn đầy những ý nghĩa rất thâm sâu, thật sự có sức hoán cải đời sống.

Nhưng trong giới hạn của thời gian và hoàn cảnh của người nghe, tôi phải làm một sự chọn lựa khác. Đi theo p/p truyền thống thì sẽ bảo đảm sự phong phú và sâu sắc của nội dung, nhưng tôi phải đành đặt hàng thứ yếu phương cách giảng và đối tượng tôi giảng. Nói đến đây là nói đến cả một thế giới khác. Đối tượng nghe tôi giảng ngồi nghe trong 10 phút đồng hồ, nhưng trong đầu và trong tâm tư họ là cả một thế giới với những ưu tư, lo lắng, buồn vui và một nhịp tim khác. Làm sao để nói mà họ cảm được đây. Nội dung có sâu sắc, nhưng nếu họ không thấy liên quan gì đến thế giới riêng của mình, thì nội dung sâu sắc cũng chỉ là nội dung sâu sắc trong kiến thức, chẳng có sức sống thay đổi con người.


Tôi đã từng là thầy giáo, giảng viên cho giới trẻ và cả người lớn, tôi hiểu được tầm quan trọng của cả hai yêu cầu này. Quan trọng hơn nữa, rao giảng một Tin Mừng có tiềm năng hoán cải cuộc sống, tôi thấy trăn trở này càng hệ trọng hơn nữa.

Cho nên tôi cứ mãi kiếm tìm một cách thức.


Saturday, November 15, 2008

Lần về thăm quê hương


Lần cuối cùng tôi về thăm lại Việt Nam là mùa hè 2003, sau mười năm rời xa quê hương. Cái làm tôi nhớ nhất về chuyến thăm quê hương này là sự tái khám phá của tình người, tình người bình dị giữa thành viên gia đình, giữa bạn bè, giữa bà con lối xóm. Cái tình người man mác trong những ca khúc bất hũ của Trịnh Công Sơn, không ào ạt và ồn ào, nhưng da diết miên man, tuy vậy mà mãnh liệt và trường tồn, cũng giống như giá trị của chính những ca khúc của ông.

Tôi đến phi trường đã nữa đêm, một ngày trong tuần, có nghĩa là ngày hôm sau mọi người vẫn phải đến trường đến sở làm. Thế mà đón tôi tại phi trường là biết bao nhiêu bà con trong gia đình và vài đứa bạn thời Trung học. Ngày hôm sau tại nhà của bà ngoại tôi, vài đứa bạn khác đến chơi. Dĩ nhiên là tôi vui mừng khôn xiết, nhưng cái làm tôi xúc động nhất là chỉ cần tụi nó nhấc điện thoại di động ra nhấn nhấn vài cái, chỉ trong vòng 15 phút đến nữa tiếng, ngôi nhà ồn ào lên vì không biết từ ngóc ngách nào cả đám bạn thời Trung học kéo đến lũ lượt. Mười năm, không đứa nào còn hồn nhiên vô tư như những năm ngồi ghế nhà trường.
Mười năm, thời gian đủ để biết bao nhiêu biến đổi thay ngôi. Vậy mà tình bạn vẫn dạt dào và sốt sắng như ngày nào. Những ngày sau đó, lang thang cùng vài đứa chỗ này chỗ kia, sao tình bạn vẫn tha thiết, sao vẫn có cái gì mà lâu lắm rồi trên đất nước Hoa Kỳ sung túc này tôi không cảm được. Cái hồn người Việt chăng?

Có một buổi chiều tham quan Vịnh Hạ Long. Tôi đứng yên lặng trên boong thuyền nhìn ra xa thẳm. Máy thuyền êm ru, mặt nước trên vịnh phẳng lặng, những dãy núi yên lặng uy nghiêm. Trời chiều không nắng nhưng sáng trưng, không mưa nhưng lại thấy như mơ mơ hồ hồ. Cái tâm hồn Việt vốn có trong con người tôi hình như đánh hơi được cái gì thiêng liêng lắm đâu đây, bởi vì tôi bỗng thấy choáng ngợp, giống như say mà lại tỉnh thức hơn bình thường. Lúc đó, cái giọng đều đều của người hướng dẫn viên du lịch kể về truyền thuyết của Vịnh Hạ Long cho du khách nghe chợt đập vào tai tôi.

Truyền thuyết kể rằng thuở xưa, khi trần gian ngập tràn yêu ma quỷ quái phá quấy con người, giết hại tàn sát, thần Rồng tổ tiên người Việt trên thiên đình thương xót con cái đã dẫn con cháu rồng của mình xuống đánh đuổi yêu ma đi. Sau khi họ quay về thiên đình, quỷ ma lại kéo nhau quay lại tiếp tục quấy phá con người. Thần Rồng và con cháu lại lần nữa kéo xuống dẹp yêu ma. Nhưng cứ mỗi lần họ quay về thiên đình là yêu ma lại lộ đầu. Cuối cùng, thần Rồng và con cháu, vì yêu thương loài người, quyết định hóa thân thành những dãy núi lớn nhỏ khác nhau, xuống và ở lại luôn với con người để bảo vệ họ. Vì thế mà cái vịnh mang tên Hạ Long, và đầy những hòn núi lớn nhỏ rãi rác khắp nơi.

Và tôi chợt hiểu. Cái hồn Việt là ở đó. Là tình người, là yêu thương, là hy sinh, là chọn ở lại với nhau bất chấp thân phận.

Đó là hình ảnh của Thánh Thể trong tôn giáo Kitô.

Tôi là người Việt. Tôi là người mang hình ảnh Kitô. Gia tài vô giá của tôi là tình người.